Mấy hôm nay, thông tin về cái hệ "cù nhầy, không học, thiểu năng" (CNKHTN) của trường "Tự nhiên học đại" nhà tớ xuất hiện dồn dập trên các blog và maillist tớ tham dự. 3 bài viết dưới đây đã được đăng ở nhiều nơi, những người vào blog của tớ và quan tâm đến CNTN thì đã đọc cả rồi, nhưng tớ vẫn muốn trưng lại ở đây, âu cũng là một hoài niệm về những năm tháng không quên.
Đọc những bài như thế này, cảm xúc về hệ cứ ập về, không kiểm soát được. Nhưng chẳng biết có thu xếp vứt mấy thứ linh tinh khác trong đầu để viết ra đây chia sẻ với mọi người được không. Sẽ cố.
-----------------------------------------------------
Tâm sự của thầy Nguyễn Duy Tiến, trưởng ban điều hành hệ, người đã gắn bó với hệ từ những ngày đầu tiên.
“Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy”
(Thế Lữ)
Trong đời làm Toán của tôi có nhiều may mắn, nhưng có lẽ may mắn nhất đối với tôi là những năm tháng được làm Toán với những người trẻ tuổi, tài cao.
Năm 1965 sau khi tốt nghiệp Khoa Toán - Cơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTHHN), tôi được GS Hoàng Tuỵ (lúc đó ông mới 38 tuổi, là Chủ nhiệm Khoa Toán) phân công chữa bài tập Hình học lớp 9 cho khối phổ thông chuyên Toán (ĐHTHHN). Dạy lý thuyết Hình học là cố GS Hoàng Hữu Đường (1936-1987), dạy lý thuyết Đại số là GS Phan Đức Chính, chữa bài tập Đại số là GS Đặng Hữu Đạo. Đây là mô hình đào tạo mới, nên tất cả các thầy đều bỡ ngỡ vì phải biên soạn giáo trình cho học sinh giỏi. Thầy Hoàng Hữu Đường lấy một cuốn Hình học nổi tiếng của Pháp làm tài liệu chính. Ông đã dịch cho tôi tất cả các bài tập của sách này. Vì không biết tiếng Pháp, sách lại không có lời giải sẵn, tôi phải tự giải lấy từ A đến Z. Phải nói rằng đây là cuốn sách quý và bài tập trong đó rất hay. Lúc đó tôi còn rất trẻ (23 tuổi), khoẻ mạnh và hăng say, nên dù trong hoàn cảnh chiến tranh rất khó khăn ở khu sơ tán Đại Từ (Bắc Thái) tôi đã cùng những học sinh khối chuyên đầu tiên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Sau đó tôi còn dạy thêm 3 khoá nữa (khóa 2, 3, 4). Nhờ làm việc với các bạn trẻ, tôi phải tự đào tạo lại bản thân mình, nhờ đó có đủ kiến thức và bản lĩnh làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài.
Thế rồi tôi không còn “duyên” dạy chuyên toán nữa, nhưng luôn gắn bó với các thày của khối: thày Nguyễn Vũ Lương, thày Phạm Văn Hùng, thày Doãn Minh Cường (ĐH Sư phạm), thày Mai Tư (ĐH Vinh), thày Nguyễn Dắc Liêm (Quốc Học Huế), thày Nguyễn Văn Thông và Nguyễn Duy Thái Sơn (Đà nẵng). Mối quan hệ này giúp tôi rất nhiều trong những năm tiếp theo.
Nhưng số phận lại “mỉm cười” với “duyên thầm” của tôi. Sau nhiều năm tháng kiếm sống ở nước ngoài về (1996), tôi được giao trách nhiệm làm Phó ban điều hành Hệ Đào tạo cử nhân Khoa học Tài năng. Tôi nhớ rất rõ, một hôm vào đầu tháng 6/1997, họp ở Viện Toán về trường ĐHKHTN, tôi được anh Đào Trọng Thi (lúc đó là Hiệu trưởng ĐHKHTN) cho đi xe cùng. Lúc ngồi trên xe, anh Thi hỏi tôi ”Trường ta sắp mở Hệ Đào tạo cử nhân Khoa học Tài năng (HĐTCNKHTN), anh có thể tham gia được không?” Tôi nhận lời và sau đó bắt tay vào công việc ngay. Trưởng ban điều hành HĐTCNKHTN là GS Đàm Trung Đồn (một nhà Vật lý có uy tín). Tôi và GS Nguyễn Văn Nhân (nhà Địa chất) làm phó cho GS Đồn. Ba chúng tôi làm việc ngày đêm và hết sức tâm đắc với công việc.Tôi nhận dạy Giải tích, thầy Đồn dạy Vật lý. Môn Toán do tôi phụ trách, nên tôi mời GS Nguyễn Hữu Việt Hưng dạy Đại số và GS Đặng Hùng Thắng chữa bài tập Giải tích giúp tôi. Thật may mắn GS Hưng và GS Thắng nhận lời ngay. Thày Nhân phụ trách quản lý sinh viên (rất tận tâm và tình cảm). Lại một lần nữa chúng tôi bắt tay vào biên soạn giáo trình mới cho HĐTCNKHTN. Thầy Đồn và tôi rất thống nhất quan điểm: trong 2 năm đầu phải lấy Toán Lý làm gốc, đặc biệt là Toán và coi trọng Tin học cho tất cả các ngành Toán, Lý, Hoá, Sinh, Khoa Học Trái đất. Tôi biết rằng đã hơn 30 năm kể từ khi lớp chuyên Toán đầu tiên được thành lập, trình độ sinh viên của Hệ đã tiến bộ vượt bậc. Có thể nói, về mặt kỹ thuật Toán sơ cấp họ còn giỏi hơn tôi. Nhiều sinh viên đã đạt giải trong các kỳ thi Quốc tế, Quốc gia, nên họ học rất nhanh. Vấn đề chính là phải viết được những giáo trình thích hợp và tìm tài liệu tham khảo tốt cho sinh viên. Điều tôi vui sướng nhất là lần đầu tiên Hệ có các sinh viên Toán, Lý, Hoá, Sinh, Địa chất học chung với nhau, đặc biệt là sinh viên Toán, Lý, Hoá sẽ có điều kiện hợp tác làm việc sau này (về sau một số cặp đã nên vợ nên chồng). Môi trường học tập tốt, được Nhà trường và các thầy cô quan tâm đầy đủ, nên sinh viên học hành chăm chỉ và tiến bộ rất nhanh. Tôi nhớ như in những khuôn mặt thông minh, sáng ngời của các em sinh viên khi nghe giảng bài, tiếp thu những kiến thức mới, hoặc chau mày suy ngẫm một điều gì đó chưa rõ (về không gian metric chẳng hạn).
Hệ mới thành lập nhưng tiếng vang đã bay sang tận Pháp (nhờ GS Đàm Trung Đồn). Hội Rencontres du Việt Nam liền cấp 30 suất học bổng cho 40 sinh viên của Hệ. Trường Ecole Polytechnicque (danh tiếng của Pháp) cử người sang tuyển chọn sinh viên đi học ở Pháp. Sinh viên đầu tiên đựợc lựa chọn sang Pháp học là Đỗ Quốc Anh (hiện đang học tại Harvard). Thế rồi hàng năm, sinh viên của Hệ lại được nhận học bổng đều đều từ tay các GS. Trần Thanh Vân, Phạm Xuân Yêm hoặc học bổng Odon Valet. Tôi rất biết ơn các GS Trương Nguyên Trân, Nguyễn Quốc Sơn luôn luôn quan tâm và cổ vũ thày trò chúng tôi (tới nay đã có tới 59 sinh viên học tại Pháp). Nhờ sự giới thiệu của GS Trần Thanh Vân, GS Greg Landsberg (Mỹ) đã nhiều lần đến Hệ tuyển chọn sinh viên của Hệ cho một số trường Đại học của Mỹ. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đặc biệt khuyến khích các tài năng trẻ của hệ. GS Trần Văn Nhung, thứ trưởng, thường xuyên gọi điện cho tôi hỏi thăm về tình hình của Hệ. Nhờ vậy, nhiều sinh viên của Hệ đã được gửi đi đào tạo tại các đại học nổi tiếng của Anh, Nga, Đức, Nhật, Úc, Singapore vân vân (năm 2003 tôi tới thăm Nga, gặp được hơn 20 sinh viên của Hệ đang học tại Đại học Tổng hợp MGU). Thêm vào đó, đúng dịp chương trình VEF (Vietnam Education Foundation) của Mỹ ra đời, nhiều sinh viên của Hệ đã có cơ hội sang Mỹ học tập, đào tạo thành Tiến sĩ.
Với tôi thì một trong những thành công ban đầu của Hệ là có một số sinh viên giỏi Toán hoặc Lý, Hoá đã tự nguyện sang học một số lĩnh vực Sinh học, Khoa học Trái đất. Về sau các sinh viên này đã có nhiều đóng góp cho ngành Sinh học, Địa chất, Địa lý, Khí tượng thuỷ văn và Môi trường (điển hình là Ngô Đức Thành, sau khi bảo vệ tiến sĩ ở Pháp về địa chất, đã sang Nhật làm việc và trở thành nhà khoa học có uy tín). Thỉng thoảng tôi nói đùa với thày Nhân rằng “ngành Địa chất sẽ hưởng lợi nhiều từ HĐTCHKHTN”. Ngoài ra, ngành Cơ học v à Thiên văn cũng được quan tâm đặc biệt (một số sinh viên của Hệ đang theo học hai lĩnh vực này tại Mỹ). Tôi tin rằng, chúng tôi đã là đơn vị đầu tiên đào tạo theo các chuẩn mực quốc tế và thực sự thành công.
Tôi lại phải tự đào tạo lại bản thân một lần nữa để hướng dẫn sinh viên của mình chọn đúng môi trường học tập và làm việc ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Nhìn chung, tôi cho rằng tôi không phải là người có tài làm Toán, nhưng tôi có nhiều tài… liệu và biết cách liên hệ, tổ chức để sinh viên học tập tốt. Các thày Hưng, thày Thắng, thày Dư, thày Kỳ Anh, thầy Long, thầy Thư, thầy Châu, thày Hữu Công, thày Minh, thày Thụy, thày Đinh Dũng đã góp cho tôi nhiều ý kiến xác đáng. Các thầy trong ban lãnh đạo nhà trường như Giám đốc ĐHQGHN Đào Trọng Thi, Hiệu trưởng trường ĐHKHTN Nguyễn Văn Mậu cũng tham gia giảng dạy. Thày Lương, thày Hùng, thày Cường, thày Mai Tư, thày Liêm, thày Thông, thày Sơn luôn cổ vũ học sinh giỏi của họ vào học HĐTCNKHTN. Nhờ thế, hầu hết các học sinh đoạt giải Quốc tế và Quốc gia đã tình nguyện trở thành sinh viên của Hệ. Nhiều nhà toán học, vật lý, hoá học vv đã gửi con em của họ cho Hệ đào tạo. Hệ có gần đầy đủ đại diện học sinh của các khối chuyên thuộc nhiều tỉnh thành trong cả nước: chuyên Hùng Vương (Phú Thọ), Trần Phú (Hải phòng), Nguyễn Trãi (Hải dương), Lê Hồng Phong (Nam Định), Lam Sơn (Thanh Hoá) Phan Bội Châu, chuyên Đại học Vinh, ĐHKHTN, ĐHSP, Amsterdam, Chu Văn An (Hà Nội), chuyên Quốc Học (Huế), Lê Quí Đôn (Đà Nẵng)…
Viện Toán học (là một ví dụ của một cơ quan khác) rất hoan nghênh việc thành lập HĐTCNKHTN. Chúng tôi đã mời nhiều nhà Toán học của Viện giảng dạy cho sinh viên của Hệ như: GS Ngô Việt Trung, GS Lê Tuấn Hoa, GS Nguyễn Tự Cường, GS Nguyễn Đình Công… và một số nhà toán học trẻ như Nguyễn Khắc Việt, Phùng Hồ Hải, Nguyễn Quốc Thắng…Có thể nói rằng khắp mọi nơi trong nước đều quan tâm đến kết quả đào tạo của Hệ. Báo, đài thường xuyên đến phỏng vấn. Nhiều Giáo sư nước ngoài tự nguyện đến Hệ giảng bài như GS F. Pham (nhà Toán học nổi tiếng của Pháp), GS Đàm Thanh Sơn (nhà Vật lý trẻ của Mỹ), GS Trịnh Xuân Thuận (nhà thiên văn lừng danh của Mỹ). Có tới 4 người được giải thưởng Nobel :
1.Norman Ramsay, Nobel 1989. ( Various techniques in atomic physics )
2.Jerome Friedman , Nobel 1990. ( Development of the Quark model )
3.James W.Cronin, Nobel 1980, ( Charge-parity violation )
4.Klaus Von Klitzing, Nobel 1985, ( Quantized Hall effect )
đến thăm và cổ vũ cho Hệ (hai GS đầu đến Hệ năm 2001, hai GS tiếp theo - năm 2006). Năm 2003, ngài Giám đốc Polytechnique, tướng Gabriel de Nomazy cũng đến thăm và nói chuyện thân mật với sinh viên của hệ. Tất cả chúng tôi đều hiểu rằng “Có bột mới gột nên hồ”. Không có sự ủng hộ của lãnh đạo, các phòng ban, Khoa và các thầy cô giáo của nhiều lĩnh vực khác nhau thì chương trình đào tạo của Hệ sẽ thất bại. Không có sự hưởng ứng tham gia học tập của sinh viên thì chương trình của Hệ sớm tàn lụi. Tôi luôn ghi nhớ điều ấy.
Đã mười năm trôi qua rồi, ít nhất có tới 150 sinh viên của mỗi ngành Khoa học cơ bản được đào tạo theo chương trình của HĐTCNKHTN. Và do đó ít nhất tôi đã làm quen được 600 bạn trẻ. Tuổi trẻ và tài năng của sinh viên buộc tôi (như một huấn luyện viên) phải trẻ lại, làm việc hăng say hơn. Một số sinh viên của Hệ nay đã trở thành TS, giảng viên, cán bộ nghiên cứu ở nhiều viện uy tín trong và ngoài nước. Nhân dịp này tôi muốn nhắc nhở các bạn trẻ đôi đìều:
1. Trong truyện Kiều có những câu thơ đáng nhớ sau đây:
Mở đầu truyện Kiều Nguyễn Du viết:
“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.”
Sau đó là:
“Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài đi với chữ tai một vần.”
Rồi ông nhắc nhở:
“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”
Và kết luận
“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
2. Người Trung Quốc xưa đã phân người tài ra làm hai loại:
“Người tài năng” và “Người tài trí”
và có câu bình luận sau đây:
“Người tài năng thường dễ nổi và hay xem thường người tài trí. Người tài trí ít nổi hơn, nhưng người tài năng thường là vật sở hữu của người tài trí. “
Theo tôi thì tài năng là phong độ, còn tài trí là đẳng cấp.
3. Tục ngữ Việt Nam có câu:
“Xấu đều hơn tốt lỏi.”
Theo tôi câu này trong nhiều trường hợp không đúng (một đội bóng phải có một cầu thủ dẫn dắt lối chơi của toàn đội chứ!).
4. Bác Hồ nói:
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.”
Theo tôi câu này luôn luôn đúng. Nhưng diệt giặc dốt rất khó, vì giặc dốt ở trong mỗi con người (kể cả những người rất tài).
5. Trong Quốc Tử Giám có ghi câu:
“Hiền tài là nguyên khí Quốc gia.
Theo tôi câu này là hay nhất trong tất cả các câu trên.
Người ta thường khen nhau: Tài tình quá. Trong thơ và nhạc thường nói nhiều đến chữ tình, ít khi nói đến chữ tài. Nếu trong chương trình “Trò chơi âm nhạc” mà có ô chữ TÀI thì tôi chịu không hát được bài gì ngoài bài “Hoan hô chú bộ đội đánh Mỹ tài ghê”. Còn chữ TÌNH thì có “Tình em biển cả”. Văn nghệ sĩ còn rất kiêng nói đến chữ tài đến thế, thảo nào, khi đặt tên cho Hệ, Giám đốc Đào Trọng Thi phải kiên trì lắm mới giữ được chữ TÀI cho Hê. Người Việt quí trọng người tài, nhưng khiếm tốn. Nhớ lấy điều này các em nhé.
Các em sinh viên của Hệ thân mến, thày Đồn (sinh năm 1934), thày Nhân (sinh năm 1939), tôi (sinh năm 1942) và sau này là thày Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1943), Nguyễn Trọng Uyển (sinh năm 1940) đã già rồi: thày Đồn, thày Nhân, thày Uyển đã về hưu, tôi cuối năm nay, và thày Hùng sang năm cũng thế. Tất cả chúng tôi mong mỏi ngày thành đạt của các em, thay thế thế hệ già chúng tôi, hoặc vì lý do nào đó mà phải ở lại thì hãy theo gương các bác Trân, Vân, Yêm, Sơn, Thuận, Phạm, Tráng… hướng về Tổ quốc Việt nam, tìm cách nào đó phục vụ cho quê hương mình.
Với tôi, mười năm cuối của tôi làm việc ở ĐHKHTN, ĐHQGHN thật sự may mắn, vì được làm việc đúng với tâm nguyện và ước vọng của mình: mười năm trồng cây (vườn hơn 600 cây đã bắt đầu ra hoa, kết trái).
Chúc các em sức khoẻ, thành đạt, may mắn và hạnh phúc. Nhớ rằng, các thày cô luôn tin tưởng và tự hào về các em.
Các em ơi! Hà nội đang vào Thu 2007. Những mùa thu trước, thày thường hát bài ca “Mặt trời bé con” của Trần Tiến để đón các em và Hệ. Mùa thu này, các thầy trong ban điều hành sẽ không còn dip đón các em vào Hệ ĐTCNKHTN nữa. Riêng thày, đâu có buồn, mà chỉ tiếc, Hệ mình không đi tiếp những ngày đắm say. Để diễn tả nỗi niềm của thày lúc này, thầy “hát” tặng các em bài ca “Thư tình cuối thu” của Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ Xuân Quỳnh nhé!
“Mùa thu vàng hoa cúc,
Chỉ còn anh và em là của mùa thu cũ…
Kìa bao người yêu mới đi qua vùng heo may,
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…”
Thu Hà Nội 2007
Bài viết nhân dịp kỷ niêm 10 thành lập Hệ Đào tạo cử nhân khoa học tài năng, ĐHKHTN, ĐHQGHN: 1997-2007
Nguyễn Duy Tiến
----------------------
Bài viết của bác Trương Nguyên Trân, một giáo sư bên Pháp đã có công rất lớn đưa các sinh viên VN sang học ở Ecole Polytechnique.
Vào những năm 1991-1995, tôi bỏ nhiều thì giờ để giúp nền giáo dục Việt Nam. Trong thời gian này tôi đã gặp nhiều giáo sư Đại Học và hai vị bộ truởng bộ Giáo dục Đào tạo ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để trao đổi những ý kiến về cải tổ nền giáo dục Đại học Việt Nam. Vào năm 1995, xu hướng ở Việt Nam trong thời điểm này là chuyển hệ thống giáo dục đại học từ mô hình Nga qua mô hình Hoa Kỳ
Cũng trong thời điểm này những nhà lãnh đạo ở trường Polytechnique muốn mở rộng sự đào tạo ở trường này cho sinh viên ngoại quốc không học theo chương trình của những lớp dự bị của Pháp (chương trình học hai hoặc ba năm sau cấp ba để dự bị thi vào những « trường lớn » ở Pháp). Năm 1995, giáo sư Roland Sénéor là người có trách nhiệm đối ngoại ở trường Polytechnique lúc ấy có nhờ tôi tìm những sinh viên Việt Nam xuất sắc để khuyến khích họ thi vào trường Polytechnique. Tôi vui mừng nắm cơ hội này vì trong nhiều năm trước đây tôi đã không thành công lắm trong việc giúp đỡ sinh viên Việt Nam đi du học ở ngoại quốc nhất là ở Hoa Kỳ với sự giúp đỡ của những bạn đồng nghiệp bên ấy.
Cũng vào lúc đó Đại Học Quốc Gia Hà Nội ra đời với sự lãnh đạo của giáo sư Nguyễn Văn Đạo. Vì tôi theo học chương trình Đại học tại Hoa Kỳ và đã làm phó giáo sư giảng dạy Vật Lý tại Đại học Brown (Hoa Kỳ) trước khi về Pháp, giáo sư Nguyễn Văn Đạo và nhiều vị giáo sư khác, nhất là giáo sư Đàm Trung Đồn, đã hỏi ý kiến tôi về việc thành lập một chương trình đặc biệt cho những sinh viên xuất sắc được chọn vào Đại học Quốc Gia (ĐHQG). Tôi thấy chuyện này rất quan trọng để Việt Nam sẽ có một đội ngũ khoa học hàng đầu sau này giúp vào những đại học, kỹ nghệ, kinh tế và những viện nghiên cứu trong tương lai, và tôi đã hoàn toàn tán thành việc này. Đây là giai đoạn đầu của Chương trình Đào tạo Cử nhân Khoa học Tài năng (ĐTCNKHTN) tại Đại Học Quốc Gia.
Mặc dầu sự thành lập của chương trình này phóng theo mô hình Hoa Kỳ, chương trình giảng dạy ở Việt Nam lại khác hẳn so với những chương trình danh dự dùng trong các đại học có tiếng ở Mỹ. Các giáo sư Việt Nam đã quyết định dành cho toán học một địa vị quan trọng trong chương trình học tập, tương đương với những chương trình học tập trong những lớp dự bị ở Pháp. Vì quyết định này và sự thu hút được những sinh viên xuất sắc như một số lớn sinh viên được giải Olympiad quốc tế hay toàn quốc, ĐHQG Hà Nội có ưu thế đối với các đại học khác ở Việt Nam trong những kỳ thi sau này vào trường Polytechnique (2/3 tổng số sinh viên Việt Nam được nhận vào Polytechnique đã học hai hoặc ba năm tại lớp ĐTCNKHTN)
Sau mười năm, với trên 100 sinh viên Việt Nam được học hoặc đang học theo chương trình đào tạo tại Polytechnique, chúng ta có thể hỏi kết quả như thế nào ? Bây giờ có lẽ còn quá sớm để trả lời câu hỏi này một cách chính xác vì chúng ta phải đánh giá sự thành công của chương trình này theo những kết quả các sinh viên sau khi ra đời trong việc làm của họ chứ không phải vì thứ họ đạt được trong lúc học ở trường. Mặc dầu còn hơi sớm, những thành tích đầu tiên cho ta thấy đây là một chương trình đã thành công và sau này có thể giúp Việt Nam nhiều trong việc xây dựng đất nước.
Về ngành Toán học có Ngô Đắc Tuấn (khóa X1997), ra trường đứng đầu cùng với một bạn người Pháp, đã lấy bằng tiến sĩ (TS) cách đây ít năm, đã thành công rực rỡ trong việc nghiên cứu và đã có một địa vị vĩnh viễn trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp ; Nguyễn Hoài Minh vừa lấy tiến sĩ Toán học và sẽ tiếp tục công trình khảo cứu ở Hoa Kỳ tại Đại học Rutgers và viện Institute for Advanced Study ở Princeton.
Một số sinh viên Việt Nam ra trường đã chọn làm tiến sĩ ở Hòa Kỳ tại những đại học nhiều tiếng tăm như Đỗ Quốc Anh (X1997), một sinh viên lớp ĐTCNTN trẻ tuổi nhất được nhận vào trường Polytechnique, đã học xuất sắc tại đây, và đã theo học ngành kinh tế tại Đại học Harvard ; Nguyễn Thái Hà (X1997) về toán ứng dụng tại Đại học Illinois, Lương Tuấn Anh (X2000) về kinh tế ở Đại học Princeton, Cao Vũ Dân (X2002) về kinh tế ở MIT, Vũ Việt Anh (X1999) về toán học ở Đại học Columbia, Trần Văn Xuân (X2000) về cơ học ở Đại học Michigan, Lê Thái Hoàng (X2001) về toán học ở UCLA và Nguyễn Bình MInh (X2002) về Vật Lý ở Đại học Northwestern.
Một số sinh viên khác đã làm xong luận án tiến sĩ ở Pháp như Ngô Đức Thành (X1998), Ngô Đức Duy (X1998) về toán học, Nguyễn Đức Trung Kiên (X1998) và Nguyễn Đức Phương (X1998) về Vật lý, Bùi Văn Điệp (X1999) và Đào Thiện Hải (X1999) về Vật lý ứng dụng. Một số khác sau khi ra trường đã quyết định không làm tiến sĩ và đã làm việc như kỹ sư trong kỹ nghệ ở Pháp và một số nhở ở Châu Âu.
Một trường hợp đặc biệt đáng chú ý là Ngô Đức Thành (X1998) sau khi làm luận án tiến sĩ xuất sắc ở Pháp, đã đến làm việc tại Đại học Tokyo, ngành Vật lý địa cầu và đã đạt được nhiều kết quả tốt trong hai năm vừa rồi. Sau đó được mời ở lại Nhật thêm 5 năm, Thành đã từ chối và quyết định về Việt Nam phục vụ đất nước.
Hiện nay đã có một số nhỏ sinh viên ở Polytechnique trở về Việt Nam như Bùi Văn Điệp (X1999), Nguyễn Anh Hoa (X2000) về ngành kỹ sư và Nguyễn Vĩnh Xuân Tiên (X2000) về giáo dục.
Sự đào tạo ở Polytechnique không phải là chuyên môn mà là rất rộng. Đã có rất nhiều sinh viên Pháp ra trường cầm đầu trong kỹ nghệ Pháp. Nhiều sinh viên đã đổi ngành một cách dễ dàng và đã thành công như nguyên tổng thống Pháp Giscard d’Estaing là cựu sinh viên trường này. Trong những sinh viên Việt Nam được đào tạo ở đây cũng có những người thành công sau khi ra trường và đã đổi nghề như Nguyễn Xuân Sơn (X1996) sau khi đã học xong Vật lý tại trường, đã làm xong tiến sĩ Vật lý, đã đổi nghề theo đường kinh tế và đã rất thành công ở Luân Đôn. Vũ Ngọc Anh (X2001) chuyên về Vật lý và đã được phần thưởng của Polytechnique vì đã tập sự xuất sắc ở hãng IBM (Mỹ), đã ra trường nhưng quyết định không theo học bằng tiến sĩ và đang làm cho một hãng tư vấn về kỹ nghệ và chiến lược ở Pháp, một địa vị đòi hỏi sự phối hợp về học thức rộng về kinh tế và kỹ sư.
Chính phủ Pháp, trường Polytechnique và các mạnh thường quân như giáo sư Odon Valet đã đóng góp một cách thiết thực không vụ lợi giúp Việt Nam đào tạo một số nhân tài xuất sắc về khoa học kinh tế có thể giúp Việt Nam bay lên. Đến lúc này là lúc chính phủ Việt Nam phải biết nắm thời cơ dùng những tài năng trẻ bằng cách tạo điều kiện làm việc để đem họ về Việt Nam giúp vào việc kiến thiết đất nước. Để chậm trễ lâu dài chuyện này sẽ rất khó khuyến khích những người này trở lại quê hương trong tương lai vì những lý do cá nhân.
-----------------
Bài viết của M. Roland Seneor, cựu giám đốc phụ trách quan hệ quốc tế của Ecole Polytechnique
Năm 1996 đánh dấu sự khởi đầu của sinh viên Việt Nam tại Ecole Polytechnique khi một thí sinh Việt Nam tham dự kỳ thi tuyển dành riêng cho sinh viên ngoại quốc đầu tiên của trường. Cậu ấy trải qua bài thi vấn đáp trong toà nhà học tiếng Pháp của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Trời thì nóng, với cậu ấy cũng như với chúng tôi, và cậu ấy tỏ ra rất sợ sệt. Cậu ấy xanh lét (từ “vert” ở đây vừa có nghĩa màu xanh, vừa tả nỗi sợ hãi, lại có thể có nghĩa “non” kinh nghiệm - N.D.) chỉ sau một lúc, bởi cậu dùng tay lau bảng (bằng gỗ sơn xanh), sau đó lại quệt mồ hôi trên mặt. Sự bắt đầu khiêm tốn này có dáng dấp của một cuộc phiêu lưu. Và nếu như chuyến phiêu lưu ấy có thể được khởi hành, tất cả là nhờ sự kiên trì và cái nhìn sáng suốt của giáo sư Trương Nguyên Trân, một đồng nghiệp và là nhà nghiên cứu của Trung tâm Vật lý lý thuyết của trường Polytechnique. Ông Trân muốn thực hiện một điều gì đó hữu ích cho Việt Nam, và ngay khi tôi nói với ông về kế hoạch mở cửa của Polytechnique tới các sinh viên người nước ngoài tài năng nhưng được đào tạo bởi các hệ thống giáo dục không phải của Pháp (tức là tuyển sinh theo thể thức 2 - 2eme voie), ông ấy bảo tôi rằng mạng lưới các đồng nghiệp của ông ở Việt Nam, chủ yếu là ở Hà Nội, có thể giúp đỡ. Đổi lại, tôi có nghĩa vụ giúp đỡ các giáo sư ở Hà Nội, những người trong những điều kiện kinh tế, vật chất khó khăn vẫn làm việc đầy nhiệt tình và luôn luôn lấy chất lượng làm mục tiêu hàng đầu. Theo như tôi nhớ, những gì chúng tôi có thể làm là chuyển tới những gì họ yêu cầu: một số sách về chương trình giảng dạy ở các lớp dự bị (để luyện thi vào các "trường lớn" - N.D).
Năm 97 chúng tôi đã có những thí sinh đầu tiên đến từ trường Đại học Quốc gia Hà Nội, và năm 98 là những thí sinh đầu tiên từ Hệ Đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Ba trong số đó đã ghi dấu cho thể thức tuyển sinh mới, đặc biệt là Ngô Đắc Tuấn, hiện là một nhà toán học đầy tài năng, xếp hạng nhì trong danh sách trúng tuyển thể thức 2, đồng hạng nhất với một sinh viên Pháp khi tốt nghiệp, và Đỗ Quốc Anh trúng tuyển chỉ sau một năm học đại học, hiện là một nhà kinh tế học vô cùng thành đạt. Đây là những minh hoạ rõ ràng, nổi bật cho chất lượng đào tạo của Hệ Cử nhân tài năng, dù không thể bỏ qua tư chất hơn người của Ngô Đắc Tuấn và Đỗ Quốc Anh. Đây là kết quả công việc của các giáo sư Đàm Trung Đồn, giáo sư Nguyễn Duy Tiến, giáo sư Nguyễn Văn Mậu và nhiều hơn nữa mà không thể kể hết ra đây, những nhà giáo hết lòng yêu nghề và sẵn sàng hy sinh tiện nghi trong cuộc sống vì sự nghiệp chung; mặt khác cũng phải kể đến trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho phép họ theo đuổi lựa chọn này. Sự "khám phá" ra một hệ thống giáo dục chất lượng cao ở Việt Nam tương đương với hệ thống các lớp dự bị của Pháp khẳng định chắc chắn rằng thể thức tuyển sinh mới không hề là một kỳ thi kém chất lượng.
Những năm sau đó, có thêm nhiều sinh viên từ Hệ Cử nhân tài năng thi đỗ vào trường Polytechnique, nhóm quốc tịch Việt Nam trong nhiều năm là nhóm sinh viên nước ngoài đông đảo nhất. Rồi dần có thêm những sinh viên Việt Nam đến từ các trường đại học chất lượng cao khác. Tất cả những điều đó, và những ghi nhận của tôi kết thúc vào năm 2003, đã chứng tỏ chất lượng đào tạo của Việt Nam, giữ gìn nó và tôn vinh những người đóng góp cho nó là rất quan trọng đối với đất nước các bạn, bởi đó là sự đảm bảo duy nhất cho sự tăng trưởng thịnh vượng và một tương lai tốt đẹp hơn.