Monday, September 24, 2007

Ừ thì Trung Thu




Trung thu chẳng có bánh nướng bánh dẻo, chẳng có cốm xanh chuối vàng, chẳng có 1 chục quả hồng nuốt ông lão 80. Lão này đành uống nước nho, ngâm mấy câu đồng dao vậy:

"Trung Thu là Tết thiếu nhi

Mà sao người lớn lại đi chơi nhiều

Chơi nhiều rồi lại làm liều

Để cho thế giới càng nhiều thiếu nhi"

Nhớ rằm tháng trước, 3h đêm lục đục bò dậy xem Nguyệt thực, vẫn còn buồn ngủ đến tận giờ

Friday, September 14, 2007

Kỷ niệm




Thời sinh viên, ai cũng có những kỷ niệm đẹp về bài vở, bạn bè, tình yêu, nhưng với những cựu sinh viên CNTN, có lẽ mọi người còn giữ trong mình những ấn tượng cực kỳ sâu nặng về hình ảnh những người thầy đã tận tụy chèo chống con thuyền CNTN vượt qua bao sóng gió áp lực để đưa từng lứa sinh viên tiếp bước vào đời. Đợt này, hệ CNTN đang kỷ niệm ( hay tưởng niệm ???) 10 năm thành lập, rất nhiều cựu sinh viên bị sốc trước tin hệ CNTN sẽ không đón SV mới và tìm mọi cách vận động nhằm vớt vát những hy vọng cuối cùng. Còn với tớ, tớ cảm thấy chẳng thể thay đổi được gì nữa, chỉ muốn nhân dịp này bày tỏ tấm lòng tớ tới những người thầy tớ (cũng như mọi người) vô cùng kính trọng, những người mà lâu nay tớ không có điều kiện giữ liên lạc, nhưng vẫn luôn xuất hiện trong đầu tớ mỗi khi tớ nghĩ điều gì liên quan đến giáo dục.

Lần đầu tiên tớ gặp cả 3 thầy trong ban điều hành là hôm khai giảng lớp K3, sau 1 tuần ngồi ở Khoa Lí mà cứ thấp thỏm mong được nhẩy lên lớp CNTN xem nó thế nào. Ấn tượng đầu tiên về bộ ba ban điều hành là … 3 thầy giống bộ ba ông Tam Đa quá . Bậy nhỉ, hôm đấy tớ cứ tự cười mãi về cái hình ảnh đấy, chẳng biết có ai giống tớ không, nhưng càng ngày, tớ càng thấy sự so sánh đấy của tớ là có lí.

Ông Phúc là người tớ biết đầu tiên, từ hồi học đội tuyển lớp 11. Từ hồi đó tớ đã thấy ở thầy toát lên một nét giản dị, nhẹ nhàng, nhưng có cái thần thái mà ai cũng phải nể phục, tôn trọng. Với đời, thầy là người trung dung, không màng danh vọng, quyền lực, nhưng trong nghiên cứu, thầy hết sức cuồng nhiệt với những ý tưởng khoa học, và luôn bền bỉ kiên trì theo đuổi đến cùng những gì mình đang làm. Thầy là một nhà khoa học chân chính, trung thực, không bao giờ bị thiên lệch bởi những yếu tố ngoài khoa học. Tính cách công bằng đấy của thầy còn thể hiện cả qua cách thầy đánh giá học sinh. Gần gũi hay xa cách, yêu quí hay lảng tránh, học sinh thể hiện với thầy thế nào cũng được, nhưng khi nhận xét, viết thư giới thiệu hay trao học bổng, thầy cứ qui từ năng lực mà ra. Nhóm Lí bọn tớ có may mắn khi được gần gũi thầy nhiều hơn, không cảm thấy thầy lạnh nhạt, nguyên tắc như cảm nhận của các nhóm khác. Đến thăm nhà thầy cô luôn được đón tiếp bằng những câu chuyện rất thú vị, cho dù quanh đi quẩn lại chỉ toàn Vật Lí. Những cũng từ những câu chuyện đó mà bọn tớ học được thêm rất nhiều. Chính thầy là người đầu tiên đã chỉ cho tớ thấy cần có sự hài hòa giữa lí thuyết và thực nghiệm, giữa ý tưởng và công cụ toán học. Hai năm đầu cử nhân, nhai đi nhai lại quyển CSVL nhưng không đứa nào nhóm lí dám khinh thường, bất cứ lúc nào thầy cũng có thể chiếu tướng bọn tớ bằng những câu hỏi khó nhằn từ những hiện tượng tưởng như ai cũng hiểu. Tớ gắn thầy với hình tượng Ông Phúc vì phía sau thành công (hoặc triển vọng thành công) của đa số sinh viên cử nhân luôn có dấu ấn của thầy. Thầy không chỉ gây ảnh hưởng lên sinh viên qua những bài giảng, kiến thức, phương pháp mà thầy truyền đạt, thầy còn là người nâng đỡ đường đi cho rất nhiều người. Nhờ mối quan hệ của thầy, sinh viên cử nhân được biết bác Trân, bác Sơn và biết đến trường X. Nhờ mối quan hệ của thầy mà sinh viên cử nhân có học bổng Odon Vallet và của bác Vân. Rồi những summer school với sự có mặt của nhiều nhà khoa học nổi tiếng thế giới đã mở mang tầm nhìn và đem lại rất nhiều khích lệ cho sinh viên.

Ông Lộc, hiển nhiên sẽ gắn với cái gì đó Tài, Lộc. Hệ CNTN từ khi thầy lên làm trưởng ban có vẻ thoáng, cởi mở và đón nhận nhiều cái mới. Về cá nhân thầy, cái Lộc đấy thể hiện qua tính cách phóng khoáng, tinh đời của thầy; qua cách thầy enjoy cuộc sống ( tớ không tìm được từ nào hay hay, dùng hưởng thụ ở đây sợ có bạn nghĩ xấu) và qua cả chuyến đi Pháp thăm trường X của thầy cô. Đón thầy cô ở X, hay chạy qua chạy lại chỗ thầy cô và thỉnh thoảng ngồi ăn cùng thầy cô, tớ mới nhận thấy thầy sâu sắc, quan tâm và nhớ sinh viên nhiêu hơn tớ tưởng. Thầy sống với sinh viên, thật và gần gũi. Đến nhà thầy hay được uống rượu, tán đủ chuyện đời. Có lần còn được cô nấu cho ăn nữa, rồi cô toàn nói là sẽ giới thiệu sinh viên của cô cho cả lũ: học trò do cô đào tạo ngoan, hiền và nấu ăn khéo. (Tiếc thật, mình chưa kịp xơ múi gì đã phải đi rồi). Uống rượu với thầy thì thôi rồi, xôm phải biết. Anh em nào đến nhà Đào Hà K2 hôm thầy ở Paris thì chắc không quên được câu hát của thầy: “Tây Nguyên có cái nắng, có cái gió, không có cái ĐÓ, anh lên đây làm gì :D” Còn về khoa học, ân tượng đầu tiên của tớ về thầy là sự kết hợp hài hòa giữa Toán Học và Thơ Đường. Giáo trình giải tích của thầy bớt nặng nề đi rất nhiều bới những lời giới thiệu đầy thi vị. Hết mỗi chương lại hồi hộp đón xem thầy viết gì ở chương sau. Những khái niệm metric, compact, liên thông cũng bớt khô cứng bởi phong cách dạy rất “lãng tử” của thầy. Lên bục giảng, thầy chỉ kể chuyện rồi điểm qua ý chính của mỗi bài, thế mà nhờ đó bọn tớ học rất nhanh và thoải mái. Thầy còn cho sinh viên hiệu đính giáo trình, rồi cho trợ giảng nữa chứ. Bọn tớ thấy mình oai ác. Cùng với Đại số tuyến tính của thầy Hưng, môn giải tích của thầy là một trong những môn khiến bọn tớ oải nhất, thậm chí cực kỳ căng thẳng trong kỳ đâu tiên. Bọn nhóm Toán thì có nền tảng vững vàng nên học rất nhẹ nhàng, còn bọn Lí thì bò nhoài ra cũng không ôm hết bài. Nhưng chính sức ép đó đã làm bọn tớ vững vàng hơn rất nhiều, vượt qua được nó, bọn tớ tự tin hơn, nên khi sang X, kệ cho bọn Pháp nó tinh vi biết đủ thứ, tớ cứ từ từ mà tiến theo sức của mình, chẳng bị quá căng thẳng, nhưng cũng chăng ganh đua được với ai L.

Người cuối cùng là ông Thọ, biểu trưng cho sự bền bỉ, nhẫn nại và miệt mài gắn bó với hệ. Những lần tớ về, không kịp đến nhà thăm từng thầy, chỉ ghé qua hệ, và lần nào cũng gặp thầy, và chỉ có thầy . Mọi người đều nói, không có thầy, chắc chắn các thể hệ SV CN không gần gũi với nhau được như thế này. Thầy quan tâm đến gia cảnh từng đứa, thầy tâm lí ( và cũng rất tinh ý) biết rõ trong lớp có đôi nào đang cò cưa nhau. Thầy như người mẹ chăm lo cho lũ sinh viên xa nhà từng li từng tí. Thầy như người cha, bênh vực bảo vệ lũ con trước sự tấp công, chỉ trích từ bên ngoài. Thầy coi bọn tớ như con, và bọn tớ cũng đều coi thầy như người cha thứ hai của mình. Hi vọng nhũng tấm lòng của bọn tớ bù đắp được phần nào cho sự mất mát lớn lao của thầy cô.

Hồi còn ở nhà, đến hệ tớ luôn có một cảm giác yên ổn và được quan tâm. Hệ hơi khép kín so với bên ngoài, nhưng nó làm bọn tớ cực kì thoải mái: có bình lọc nước để uống, có phòng máy tính máy lạnh để dùng (và thỉnh thoảng ngủ trưa). Có 2 phòng riêng biệt để trưa đến con trai một bên, con gái một bên, kéo rèm vào ngủ. Đằng sau cái sự thoải mái đó tớ luôn cảm thấy có sự chăm lo của thầy, nên càng thấy yên ổn hơn. Thậm chí có đứa còn thấy yên ổn đến mức không sợ thi trượt các môn xã hội :D, tất nhiên là có đứa trượt, nhưng không có thầy, chắc còn nhiều đứa chết nữa. Kể cũng khổ thầy, chắc thầy cũng gặp nhiều rắc rối vì những chuyện linh tinh thế này. Lần thầy đưa bọn tớ đi thực địa, ngoài sự chu đáo chăm lo bữa ăn, chỗ ở, và cả chốn vui chơi cho bọn tớ, tớ còn nhận ra thêm vẻ trẻ trung, vui tính của thầy. Tớ không được chứng kiến hoàn cảnh sáng tác của kiệt tác của thầy, thực ra là không biết sự tồn tại của nó, đến khi vào blog của lão lão. Mượn về đây để mọi người biết thầy tớ thế nào

Trời mưa như chó *ái

Người đi như cóc nhái

Văn Nhân vẫn thư thái

Đứng *ái

Bài thơ của thầy làm cho từ ''thư thái" sau này trở nên nhạy cảm hơn bao giờ hết

Những ngày này, chắc các thầy cũng nhiều tâm trạng. Sinh viên bọn tớ còn trăn trở với sự sống/còn của hệ nữa là các thầy. Chắc là các thầy đã đấu tranh mạnh mẽ lắm, chắc các thầy đã nỗ lực rất nhiều, và khi kết quả không như ý muốn, chắc các thầy buồn lắm. Em chỉ muốn nói là chúng em cảm ơn các thầy rất nhiều, 3 thầy trong ban điều hành, và nhiều thầy cô khác đã tham gia và hỗ trợ hệ CNTN. Chúng em tự hào về những gì các thầy đã làm cho hệ. Hy vọng những tâm sự, suy nghĩ của các cựu SV CN nhân dịp này sẽ giúp các thầy mỉm cười với thành quả mà mình đã làm, và các thầy sẽ thanh thản hơn để hệ CN ra đi. Mai kia, theo chu kì thăng giáng của tạo hóa, khi xã hội có nhu cầu, một hệ cử nhân tài năng khác sẽ được ra đời và làm tròn phận sự của nó. Nếu đúng thời điểm, chúng em cũng sẽ dồn hết tâm huyết để có một hệ, giống hệ CNTN của chúng ta. Còn bây giờ, chỉ mong câu hát của thầy Tiến là sự thật: “Thầy không BUỒN, mà chỉ tiếc hệ không đi tiếp những ngày đắm say”

P/s: Các bạn không biết hệ CN đọc xong bài này có đoán được "ông" nào là "ông" nào trong ba ông Tam Đa ở ảnh trên không?

Friday, September 7, 2007

Cu nhan tai nang: Nhung nam thang khong quen

Mấy hôm nay, thông tin về cái hệ "cù nhầy, không học, thiểu năng" (CNKHTN) của trường "Tự nhiên học đại" nhà tớ xuất hiện dồn dập trên các blog và maillist tớ tham dự. 3 bài viết dưới đây đã được đăng ở nhiều nơi, những người vào blog của tớ và quan tâm đến CNTN thì đã đọc cả rồi, nhưng tớ vẫn muốn trưng lại ở đây, âu cũng là một hoài niệm về những năm tháng không quên.

Đọc những bài như thế này, cảm xúc về hệ cứ ập về, không kiểm soát được. Nhưng chẳng biết có thu xếp vứt mấy thứ linh tinh khác trong đầu để viết ra đây chia sẻ với mọi người được không. Sẽ cố.
-----------------------------------------------------

Tâm sự của thầy Nguyễn Duy Tiến, trưởng ban điều hành hệ, người đã gắn bó với hệ từ những ngày đầu tiên.

Những năm tháng không quên


“Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy”
(Thế Lữ)

Trong đời làm Toán của tôi có nhiều may mắn, nhưng có lẽ may mắn nhất đối với tôi là những năm tháng được làm Toán với những người trẻ tuổi, tài cao.

Năm 1965 sau khi tốt nghiệp Khoa Toán - Cơ, Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTHHN), tôi được GS Hoàng Tuỵ (lúc đó ông mới 38 tuổi, là Chủ nhiệm Khoa Toán) phân công chữa bài tập Hình học lớp 9 cho khối phổ thông chuyên Toán (ĐHTHHN). Dạy lý thuyết Hình học là cố GS Hoàng Hữu Đường (1936-1987), dạy lý thuyết Đại số là GS Phan Đức Chính, chữa bài tập Đại số là GS Đặng Hữu Đạo. Đây là mô hình đào tạo mới, nên tất cả các thầy đều bỡ ngỡ vì phải biên soạn giáo trình cho học sinh giỏi. Thầy Hoàng Hữu Đường lấy một cuốn Hình học nổi tiếng của Pháp làm tài liệu chính. Ông đã dịch cho tôi tất cả các bài tập của sách này. Vì không biết tiếng Pháp, sách lại không có lời giải sẵn, tôi phải tự giải lấy từ A đến Z. Phải nói rằng đây là cuốn sách quý và bài tập trong đó rất hay. Lúc đó tôi còn rất trẻ (23 tuổi), khoẻ mạnh và hăng say, nên dù trong hoàn cảnh chiến tranh rất khó khăn ở khu sơ tán Đại Từ (Bắc Thái) tôi đã cùng những học sinh khối chuyên đầu tiên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Sau đó tôi còn dạy thêm 3 khoá nữa (khóa 2, 3, 4). Nhờ làm việc với các bạn trẻ, tôi phải tự đào tạo lại bản thân mình, nhờ đó có đủ kiến thức và bản lĩnh làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài.

Thế rồi tôi không còn “duyên” dạy chuyên toán nữa, nhưng luôn gắn bó với các thày của khối: thày Nguyễn Vũ Lương, thày Phạm Văn Hùng, thày Doãn Minh Cường (ĐH Sư phạm), thày Mai Tư (ĐH Vinh), thày Nguyễn Dắc Liêm (Quốc Học Huế), thày Nguyễn Văn Thông và Nguyễn Duy Thái Sơn (Đà nẵng). Mối quan hệ này giúp tôi rất nhiều trong những năm tiếp theo.

Nhưng số phận lại “mỉm cười” với “duyên thầm” của tôi. Sau nhiều năm tháng kiếm sống ở nước ngoài về (1996), tôi được giao trách nhiệm làm Phó ban điều hành Hệ Đào tạo cử nhân Khoa học Tài năng. Tôi nhớ rất rõ, một hôm vào đầu tháng 6/1997, họp ở Viện Toán về trường ĐHKHTN, tôi được anh Đào Trọng Thi (lúc đó là Hiệu trưởng ĐHKHTN) cho đi xe cùng. Lúc ngồi trên xe, anh Thi hỏi tôi ”Trường ta sắp mở Hệ Đào tạo cử nhân Khoa học Tài năng (HĐTCNKHTN), anh có thể tham gia được không?” Tôi nhận lời và sau đó bắt tay vào công việc ngay. Trưởng ban điều hành HĐTCNKHTN là GS Đàm Trung Đồn (một nhà Vật lý có uy tín). Tôi và GS Nguyễn Văn Nhân (nhà Địa chất) làm phó cho GS Đồn. Ba chúng tôi làm việc ngày đêm và hết sức tâm đắc với công việc.Tôi nhận dạy Giải tích, thầy Đồn dạy Vật lý. Môn Toán do tôi phụ trách, nên tôi mời GS Nguyễn Hữu Việt Hưng dạy Đại số và GS Đặng Hùng Thắng chữa bài tập Giải tích giúp tôi. Thật may mắn GS Hưng và GS Thắng nhận lời ngay. Thày Nhân phụ trách quản lý sinh viên (rất tận tâm và tình cảm). Lại một lần nữa chúng tôi bắt tay vào biên soạn giáo trình mới cho HĐTCNKHTN. Thầy Đồn và tôi rất thống nhất quan điểm: trong 2 năm đầu phải lấy Toán Lý làm gốc, đặc biệt là Toán và coi trọng Tin học cho tất cả các ngành Toán, Lý, Hoá, Sinh, Khoa Học Trái đất. Tôi biết rằng đã hơn 30 năm kể từ khi lớp chuyên Toán đầu tiên được thành lập, trình độ sinh viên của Hệ đã tiến bộ vượt bậc. Có thể nói, về mặt kỹ thuật Toán sơ cấp họ còn giỏi hơn tôi. Nhiều sinh viên đã đạt giải trong các kỳ thi Quốc tế, Quốc gia, nên họ học rất nhanh. Vấn đề chính là phải viết được những giáo trình thích hợp và tìm tài liệu tham khảo tốt cho sinh viên. Điều tôi vui sướng nhất là lần đầu tiên Hệ có các sinh viên Toán, Lý, Hoá, Sinh, Địa chất học chung với nhau, đặc biệt là sinh viên Toán, Lý, Hoá sẽ có điều kiện hợp tác làm việc sau này (về sau một số cặp đã nên vợ nên chồng). Môi trường học tập tốt, được Nhà trường và các thầy cô quan tâm đầy đủ, nên sinh viên học hành chăm chỉ và tiến bộ rất nhanh. Tôi nhớ như in những khuôn mặt thông minh, sáng ngời của các em sinh viên khi nghe giảng bài, tiếp thu những kiến thức mới, hoặc chau mày suy ngẫm một điều gì đó chưa rõ (về không gian metric chẳng hạn).

Hệ mới thành lập nhưng tiếng vang đã bay sang tận Pháp (nhờ GS Đàm Trung Đồn). Hội Rencontres du Việt Nam liền cấp 30 suất học bổng cho 40 sinh viên của Hệ. Trường Ecole Polytechnicque (danh tiếng của Pháp) cử người sang tuyển chọn sinh viên đi học ở Pháp. Sinh viên đầu tiên đựợc lựa chọn sang Pháp học là Đỗ Quốc Anh (hiện đang học tại Harvard). Thế rồi hàng năm, sinh viên của Hệ lại được nhận học bổng đều đều từ tay các GS. Trần Thanh Vân, Phạm Xuân Yêm hoặc học bổng Odon Valet. Tôi rất biết ơn các GS Trương Nguyên Trân, Nguyễn Quốc Sơn luôn luôn quan tâm và cổ vũ thày trò chúng tôi (tới nay đã có tới 59 sinh viên học tại Pháp). Nhờ sự giới thiệu của GS Trần Thanh Vân, GS Greg Landsberg (Mỹ) đã nhiều lần đến Hệ tuyển chọn sinh viên của Hệ cho một số trường Đại học của Mỹ. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đặc biệt khuyến khích các tài năng trẻ của hệ. GS Trần Văn Nhung, thứ trưởng, thường xuyên gọi điện cho tôi hỏi thăm về tình hình của Hệ. Nhờ vậy, nhiều sinh viên của Hệ đã được gửi đi đào tạo tại các đại học nổi tiếng của Anh, Nga, Đức, Nhật, Úc, Singapore vân vân (năm 2003 tôi tới thăm Nga, gặp được hơn 20 sinh viên của Hệ đang học tại Đại học Tổng hợp MGU). Thêm vào đó, đúng dịp chương trình VEF (Vietnam Education Foundation) của Mỹ ra đời, nhiều sinh viên của Hệ đã có cơ hội sang Mỹ học tập, đào tạo thành Tiến sĩ.

Với tôi thì một trong những thành công ban đầu của Hệ là có một số sinh viên giỏi Toán hoặc Lý, Hoá đã tự nguyện sang học một số lĩnh vực Sinh học, Khoa học Trái đất. Về sau các sinh viên này đã có nhiều đóng góp cho ngành Sinh học, Địa chất, Địa lý, Khí tượng thuỷ văn và Môi trường (điển hình là Ngô Đức Thành, sau khi bảo vệ tiến sĩ ở Pháp về địa chất, đã sang Nhật làm việc và trở thành nhà khoa học có uy tín). Thỉng thoảng tôi nói đùa với thày Nhân rằng “ngành Địa chất sẽ hưởng lợi nhiều từ HĐTCHKHTN”. Ngoài ra, ngành Cơ học v à Thiên văn cũng được quan tâm đặc biệt (một số sinh viên của Hệ đang theo học hai lĩnh vực này tại Mỹ). Tôi tin rằng, chúng tôi đã là đơn vị đầu tiên đào tạo theo các chuẩn mực quốc tế và thực sự thành công.

Tôi lại phải tự đào tạo lại bản thân một lần nữa để hướng dẫn sinh viên của mình chọn đúng môi trường học tập và làm việc ở trong nước hoặc ở nước ngoài. Nhìn chung, tôi cho rằng tôi không phải là người có tài làm Toán, nhưng tôi có nhiều tài… liệu và biết cách liên hệ, tổ chức để sinh viên học tập tốt. Các thày Hưng, thày Thắng, thày Dư, thày Kỳ Anh, thầy Long, thầy Thư, thầy Châu, thày Hữu Công, thày Minh, thày Thụy, thày Đinh Dũng đã góp cho tôi nhiều ý kiến xác đáng. Các thầy trong ban lãnh đạo nhà trường như Giám đốc ĐHQGHN Đào Trọng Thi, Hiệu trưởng trường ĐHKHTN Nguyễn Văn Mậu cũng tham gia giảng dạy. Thày Lương, thày Hùng, thày Cường, thày Mai Tư, thày Liêm, thày Thông, thày Sơn luôn cổ vũ học sinh giỏi của họ vào học HĐTCNKHTN. Nhờ thế, hầu hết các học sinh đoạt giải Quốc tế và Quốc gia đã tình nguyện trở thành sinh viên của Hệ. Nhiều nhà toán học, vật lý, hoá học vv đã gửi con em của họ cho Hệ đào tạo. Hệ có gần đầy đủ đại diện học sinh của các khối chuyên thuộc nhiều tỉnh thành trong cả nước: chuyên Hùng Vương (Phú Thọ), Trần Phú (Hải phòng), Nguyễn Trãi (Hải dương), Lê Hồng Phong (Nam Định), Lam Sơn (Thanh Hoá) Phan Bội Châu, chuyên Đại học Vinh, ĐHKHTN, ĐHSP, Amsterdam, Chu Văn An (Hà Nội), chuyên Quốc Học (Huế), Lê Quí Đôn (Đà Nẵng)…

Viện Toán học (là một ví dụ của một cơ quan khác) rất hoan nghênh việc thành lập HĐTCNKHTN. Chúng tôi đã mời nhiều nhà Toán học của Viện giảng dạy cho sinh viên của Hệ như: GS Ngô Việt Trung, GS Lê Tuấn Hoa, GS Nguyễn Tự Cường, GS Nguyễn Đình Công… và một số nhà toán học trẻ như Nguyễn Khắc Việt, Phùng Hồ Hải, Nguyễn Quốc Thắng…Có thể nói rằng khắp mọi nơi trong nước đều quan tâm đến kết quả đào tạo của Hệ. Báo, đài thường xuyên đến phỏng vấn. Nhiều Giáo sư nước ngoài tự nguyện đến Hệ giảng bài như GS F. Pham (nhà Toán học nổi tiếng của Pháp), GS Đàm Thanh Sơn (nhà Vật lý trẻ của Mỹ), GS Trịnh Xuân Thuận (nhà thiên văn lừng danh của Mỹ). Có tới 4 người được giải thưởng Nobel :
1.Norman Ramsay, Nobel 1989. ( Various techniques in atomic physics )
2.Jerome Friedman , Nobel 1990. ( Development of the Quark model )
3.James W.Cronin, Nobel 1980, ( Charge-parity violation )
4.Klaus Von Klitzing, Nobel 1985, ( Quantized Hall effect )
đến thăm và cổ vũ cho Hệ (hai GS đầu đến Hệ năm 2001, hai GS tiếp theo - năm 2006). Năm 2003, ngài Giám đốc Polytechnique, tướng Gabriel de Nomazy cũng đến thăm và nói chuyện thân mật với sinh viên của hệ. Tất cả chúng tôi đều hiểu rằng “Có bột mới gột nên hồ”. Không có sự ủng hộ của lãnh đạo, các phòng ban, Khoa và các thầy cô giáo của nhiều lĩnh vực khác nhau thì chương trình đào tạo của Hệ sẽ thất bại. Không có sự hưởng ứng tham gia học tập của sinh viên thì chương trình của Hệ sớm tàn lụi. Tôi luôn ghi nhớ điều ấy.

Đã mười năm trôi qua rồi, ít nhất có tới 150 sinh viên của mỗi ngành Khoa học cơ bản được đào tạo theo chương trình của HĐTCNKHTN. Và do đó ít nhất tôi đã làm quen được 600 bạn trẻ. Tuổi trẻ và tài năng của sinh viên buộc tôi (như một huấn luyện viên) phải trẻ lại, làm việc hăng say hơn. Một số sinh viên của Hệ nay đã trở thành TS, giảng viên, cán bộ nghiên cứu ở nhiều viện uy tín trong và ngoài nước. Nhân dịp này tôi muốn nhắc nhở các bạn trẻ đôi đìều:

1. Trong truyện Kiều có những câu thơ đáng nhớ sau đây:

Mở đầu truyện Kiều Nguyễn Du viết:

“Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.”

Sau đó là:
“Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài đi với chữ tai một vần.”

Rồi ông nhắc nhở:
“Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”

Và kết luận
“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.”

2. Người Trung Quốc xưa đã phân người tài ra làm hai loại:
“Người tài năng” và “Người tài trí”

và có câu bình luận sau đây:
“Người tài năng thường dễ nổi và hay xem thường người tài trí. Người tài trí ít nổi hơn, nhưng người tài năng thường là vật sở hữu của người tài trí. “

Theo tôi thì tài năng là phong độ, còn tài trí là đẳng cấp.

3. Tục ngữ Việt Nam có câu:
“Xấu đều hơn tốt lỏi.”

Theo tôi câu này trong nhiều trường hợp không đúng (một đội bóng phải có một cầu thủ dẫn dắt lối chơi của toàn đội chứ!).

4. Bác Hồ nói:
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.”

Theo tôi câu này luôn luôn đúng. Nhưng diệt giặc dốt rất khó, vì giặc dốt ở trong mỗi con người (kể cả những người rất tài).

5. Trong Quốc Tử Giám có ghi câu:
“Hiền tài là nguyên khí Quốc gia.

Theo tôi câu này là hay nhất trong tất cả các câu trên.

Người ta thường khen nhau: Tài tình quá. Trong thơ và nhạc thường nói nhiều đến chữ tình, ít khi nói đến chữ tài. Nếu trong chương trình “Trò chơi âm nhạc” mà có ô chữ TÀI thì tôi chịu không hát được bài gì ngoài bài “Hoan hô chú bộ đội đánh Mỹ tài ghê”. Còn chữ TÌNH thì có “Tình em biển cả”. Văn nghệ sĩ còn rất kiêng nói đến chữ tài đến thế, thảo nào, khi đặt tên cho Hệ, Giám đốc Đào Trọng Thi phải kiên trì lắm mới giữ được chữ TÀI cho Hê. Người Việt quí trọng người tài, nhưng khiếm tốn. Nhớ lấy điều này các em nhé.

Các em sinh viên của Hệ thân mến, thày Đồn (sinh năm 1934), thày Nhân (sinh năm 1939), tôi (sinh năm 1942) và sau này là thày Nguyễn Văn Hùng (sinh năm 1943), Nguyễn Trọng Uyển (sinh năm 1940) đã già rồi: thày Đồn, thày Nhân, thày Uyển đã về hưu, tôi cuối năm nay, và thày Hùng sang năm cũng thế. Tất cả chúng tôi mong mỏi ngày thành đạt của các em, thay thế thế hệ già chúng tôi, hoặc vì lý do nào đó mà phải ở lại thì hãy theo gương các bác Trân, Vân, Yêm, Sơn, Thuận, Phạm, Tráng… hướng về Tổ quốc Việt nam, tìm cách nào đó phục vụ cho quê hương mình.

Với tôi, mười năm cuối của tôi làm việc ở ĐHKHTN, ĐHQGHN thật sự may mắn, vì được làm việc đúng với tâm nguyện và ước vọng của mình: mười năm trồng cây (vườn hơn 600 cây đã bắt đầu ra hoa, kết trái).

Chúc các em sức khoẻ, thành đạt, may mắn và hạnh phúc. Nhớ rằng, các thày cô luôn tin tưởng và tự hào về các em.

Các em ơi! Hà nội đang vào Thu 2007. Những mùa thu trước, thày thường hát bài ca “Mặt trời bé con” của Trần Tiến để đón các em và Hệ. Mùa thu này, các thầy trong ban điều hành sẽ không còn dip đón các em vào Hệ ĐTCNKHTN nữa. Riêng thày, đâu có buồn, mà chỉ tiếc, Hệ mình không đi tiếp những ngày đắm say. Để diễn tả nỗi niềm của thày lúc này, thầy “hát” tặng các em bài ca “Thư tình cuối thu” của Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ Xuân Quỳnh nhé!

“Mùa thu vàng hoa cúc,
Chỉ còn anh và em là của mùa thu cũ…

Kìa bao người yêu mới đi qua vùng heo may,
Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…”

Thu Hà Nội 2007
Bài viết nhân dịp kỷ niêm 10 thành lập Hệ Đào tạo cử nhân khoa học tài năng, ĐHKHTN, ĐHQGHN: 1997-2007

Nguyễn Duy Tiến

----------------------

Bài viết của bác Trương Nguyên Trân, một giáo sư bên Pháp đã có công rất lớn đưa các sinh viên VN sang học ở Ecole Polytechnique.


Vào những năm 1991-1995, tôi bỏ nhiều thì giờ để giúp nền giáo dục Việt Nam. Trong thời gian này tôi đã gặp nhiều giáo sư Đại Học và hai vị bộ truởng bộ Giáo dục Đào tạo ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để trao đổi những ý kiến về cải tổ nền giáo dục Đại học Việt Nam. Vào năm 1995, xu hướng ở Việt Nam trong thời điểm này là chuyển hệ thống giáo dục đại học từ mô hình Nga qua mô hình Hoa Kỳ

Cũng trong thời điểm này những nhà lãnh đạo ở trường Polytechnique muốn mở rộng sự đào tạo ở trường này cho sinh viên ngoại quốc không học theo chương trình của những lớp dự bị của Pháp (chương trình học hai hoặc ba năm sau cấp ba để dự bị thi vào những « trường lớn » ở Pháp). Năm 1995, giáo sư Roland Sénéor là người có trách nhiệm đối ngoại ở trường Polytechnique lúc ấy có nhờ tôi tìm những sinh viên Việt Nam xuất sắc để khuyến khích họ thi vào trường Polytechnique. Tôi vui mừng nắm cơ hội này vì trong nhiều năm trước đây tôi đã không thành công lắm trong việc giúp đỡ sinh viên Việt Nam đi du học ở ngoại quốc nhất là ở Hoa Kỳ với sự giúp đỡ của những bạn đồng nghiệp bên ấy.

Cũng vào lúc đó Đại Học Quốc Gia Hà Nội ra đời với sự lãnh đạo của giáo sư Nguyễn Văn Đạo. Vì tôi theo học chương trình Đại học tại Hoa Kỳ và đã làm phó giáo sư giảng dạy Vật Lý tại Đại học Brown (Hoa Kỳ) trước khi về Pháp, giáo sư Nguyễn Văn Đạo và nhiều vị giáo sư khác, nhất là giáo sư Đàm Trung Đồn, đã hỏi ý kiến tôi về việc thành lập một chương trình đặc biệt cho những sinh viên xuất sắc được chọn vào Đại học Quốc Gia (ĐHQG). Tôi thấy chuyện này rất quan trọng để Việt Nam sẽ có một đội ngũ khoa học hàng đầu sau này giúp vào những đại học, kỹ nghệ, kinh tế và những viện nghiên cứu trong tương lai, và tôi đã hoàn toàn tán thành việc này. Đây là giai đoạn đầu của Chương trình Đào tạo Cử nhân Khoa học Tài năng (ĐTCNKHTN) tại Đại Học Quốc Gia.

Mặc dầu sự thành lập của chương trình này phóng theo mô hình Hoa Kỳ, chương trình giảng dạy ở Việt Nam lại khác hẳn so với những chương trình danh dự dùng trong các đại học có tiếng ở Mỹ. Các giáo sư Việt Nam đã quyết định dành cho toán học một địa vị quan trọng trong chương trình học tập, tương đương với những chương trình học tập trong những lớp dự bị ở Pháp. Vì quyết định này và sự thu hút được những sinh viên xuất sắc như một số lớn sinh viên được giải Olympiad quốc tế hay toàn quốc, ĐHQG Hà Nội có ưu thế đối với các đại học khác ở Việt Nam trong những kỳ thi sau này vào trường Polytechnique (2/3 tổng số sinh viên Việt Nam được nhận vào Polytechnique đã học hai hoặc ba năm tại lớp ĐTCNKHTN)

Sau mười năm, với trên 100 sinh viên Việt Nam được học hoặc đang học theo chương trình đào tạo tại Polytechnique, chúng ta có thể hỏi kết quả như thế nào ? Bây giờ có lẽ còn quá sớm để trả lời câu hỏi này một cách chính xác vì chúng ta phải đánh giá sự thành công của chương trình này theo những kết quả các sinh viên sau khi ra đời trong việc làm của họ chứ không phải vì thứ họ đạt được trong lúc học ở trường. Mặc dầu còn hơi sớm, những thành tích đầu tiên cho ta thấy đây là một chương trình đã thành công và sau này có thể giúp Việt Nam nhiều trong việc xây dựng đất nước.

Về ngành Toán học có Ngô Đắc Tuấn (khóa X1997), ra trường đứng đầu cùng với một bạn người Pháp, đã lấy bằng tiến sĩ (TS) cách đây ít năm, đã thành công rực rỡ trong việc nghiên cứu và đã có một địa vị vĩnh viễn trong Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp ; Nguyễn Hoài Minh vừa lấy tiến sĩ Toán học và sẽ tiếp tục công trình khảo cứu ở Hoa Kỳ tại Đại học Rutgers và viện Institute for Advanced Study ở Princeton.

Một số sinh viên Việt Nam ra trường đã chọn làm tiến sĩ ở Hòa Kỳ tại những đại học nhiều tiếng tăm như Đỗ Quốc Anh (X1997), một sinh viên lớp ĐTCNTN trẻ tuổi nhất được nhận vào trường Polytechnique, đã học xuất sắc tại đây, và đã theo học ngành kinh tế tại Đại học Harvard ; Nguyễn Thái Hà (X1997) về toán ứng dụng tại Đại học Illinois, Lương Tuấn Anh (X2000) về kinh tế ở Đại học Princeton, Cao Vũ Dân (X2002) về kinh tế ở MIT, Vũ Việt Anh (X1999) về toán học ở Đại học Columbia, Trần Văn Xuân (X2000) về cơ học ở Đại học Michigan, Lê Thái Hoàng (X2001) về toán học ở UCLA và Nguyễn Bình MInh (X2002) về Vật Lý ở Đại học Northwestern.

Một số sinh viên khác đã làm xong luận án tiến sĩ ở Pháp như Ngô Đức Thành (X1998), Ngô Đức Duy (X1998) về toán học, Nguyễn Đức Trung Kiên (X1998) và Nguyễn Đức Phương (X1998) về Vật lý, Bùi Văn Điệp (X1999) và Đào Thiện Hải (X1999) về Vật lý ứng dụng. Một số khác sau khi ra trường đã quyết định không làm tiến sĩ và đã làm việc như kỹ sư trong kỹ nghệ ở Pháp và một số nhở ở Châu Âu.

Một trường hợp đặc biệt đáng chú ý là Ngô Đức Thành (X1998) sau khi làm luận án tiến sĩ xuất sắc ở Pháp, đã đến làm việc tại Đại học Tokyo, ngành Vật lý địa cầu và đã đạt được nhiều kết quả tốt trong hai năm vừa rồi. Sau đó được mời ở lại Nhật thêm 5 năm, Thành đã từ chối và quyết định về Việt Nam phục vụ đất nước.

Hiện nay đã có một số nhỏ sinh viên ở Polytechnique trở về Việt Nam như Bùi Văn Điệp (X1999), Nguyễn Anh Hoa (X2000) về ngành kỹ sư và Nguyễn Vĩnh Xuân Tiên (X2000) về giáo dục.

Sự đào tạo ở Polytechnique không phải là chuyên môn mà là rất rộng. Đã có rất nhiều sinh viên Pháp ra trường cầm đầu trong kỹ nghệ Pháp. Nhiều sinh viên đã đổi ngành một cách dễ dàng và đã thành công như nguyên tổng thống Pháp Giscard d’Estaing là cựu sinh viên trường này. Trong những sinh viên Việt Nam được đào tạo ở đây cũng có những người thành công sau khi ra trường và đã đổi nghề như Nguyễn Xuân Sơn (X1996) sau khi đã học xong Vật lý tại trường, đã làm xong tiến sĩ Vật lý, đã đổi nghề theo đường kinh tế và đã rất thành công ở Luân Đôn. Vũ Ngọc Anh (X2001) chuyên về Vật lý và đã được phần thưởng của Polytechnique vì đã tập sự xuất sắc ở hãng IBM (Mỹ), đã ra trường nhưng quyết định không theo học bằng tiến sĩ và đang làm cho một hãng tư vấn về kỹ nghệ và chiến lược ở Pháp, một địa vị đòi hỏi sự phối hợp về học thức rộng về kinh tế và kỹ sư.

Chính phủ Pháp, trường Polytechnique và các mạnh thường quân như giáo sư Odon Valet đã đóng góp một cách thiết thực không vụ lợi giúp Việt Nam đào tạo một số nhân tài xuất sắc về khoa học kinh tế có thể giúp Việt Nam bay lên. Đến lúc này là lúc chính phủ Việt Nam phải biết nắm thời cơ dùng những tài năng trẻ bằng cách tạo điều kiện làm việc để đem họ về Việt Nam giúp vào việc kiến thiết đất nước. Để chậm trễ lâu dài chuyện này sẽ rất khó khuyến khích những người này trở lại quê hương trong tương lai vì những lý do cá nhân.



-----------------
Bài viết của M. Roland Seneor, cựu giám đốc phụ trách quan hệ quốc tế của Ecole Polytechnique


Năm 1996 đánh dấu sự khởi đầu của sinh viên Việt Nam tại Ecole Polytechnique khi một thí sinh Việt Nam tham dự kỳ thi tuyển dành riêng cho sinh viên ngoại quốc đầu tiên của trường. Cậu ấy trải qua bài thi vấn đáp trong toà nhà học tiếng Pháp của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Trời thì nóng, với cậu ấy cũng như với chúng tôi, và cậu ấy tỏ ra rất sợ sệt. Cậu ấy xanh lét (từ “vert” ở đây vừa có nghĩa màu xanh, vừa tả nỗi sợ hãi, lại có thể có nghĩa “non” kinh nghiệm - N.D.) chỉ sau một lúc, bởi cậu dùng tay lau bảng (bằng gỗ sơn xanh), sau đó lại quệt mồ hôi trên mặt. Sự bắt đầu khiêm tốn này có dáng dấp của một cuộc phiêu lưu. Và nếu như chuyến phiêu lưu ấy có thể được khởi hành, tất cả là nhờ sự kiên trì và cái nhìn sáng suốt của giáo sư Trương Nguyên Trân, một đồng nghiệp và là nhà nghiên cứu của Trung tâm Vật lý lý thuyết của trường Polytechnique. Ông Trân muốn thực hiện một điều gì đó hữu ích cho Việt Nam, và ngay khi tôi nói với ông về kế hoạch mở cửa của Polytechnique tới các sinh viên người nước ngoài tài năng nhưng được đào tạo bởi các hệ thống giáo dục không phải của Pháp (tức là tuyển sinh theo thể thức 2 - 2eme voie), ông ấy bảo tôi rằng mạng lưới các đồng nghiệp của ông ở Việt Nam, chủ yếu là ở Hà Nội, có thể giúp đỡ. Đổi lại, tôi có nghĩa vụ giúp đỡ các giáo sư ở Hà Nội, những người trong những điều kiện kinh tế, vật chất khó khăn vẫn làm việc đầy nhiệt tình và luôn luôn lấy chất lượng làm mục tiêu hàng đầu. Theo như tôi nhớ, những gì chúng tôi có thể làm là chuyển tới những gì họ yêu cầu: một số sách về chương trình giảng dạy ở các lớp dự bị (để luyện thi vào các "trường lớn" - N.D).

Năm 97 chúng tôi đã có những thí sinh đầu tiên đến từ trường Đại học Quốc gia Hà Nội, và năm 98 là những thí sinh đầu tiên từ Hệ Đào tạo cử nhân khoa học tài năng. Ba trong số đó đã ghi dấu cho thể thức tuyển sinh mới, đặc biệt là Ngô Đắc Tuấn, hiện là một nhà toán học đầy tài năng, xếp hạng nhì trong danh sách trúng tuyển thể thức 2, đồng hạng nhất với một sinh viên Pháp khi tốt nghiệp, và Đỗ Quốc Anh trúng tuyển chỉ sau một năm học đại học, hiện là một nhà kinh tế học vô cùng thành đạt. Đây là những minh hoạ rõ ràng, nổi bật cho chất lượng đào tạo của Hệ Cử nhân tài năng, dù không thể bỏ qua tư chất hơn người của Ngô Đắc Tuấn và Đỗ Quốc Anh. Đây là kết quả công việc của các giáo sư Đàm Trung Đồn, giáo sư Nguyễn Duy Tiến, giáo sư Nguyễn Văn Mậu và nhiều hơn nữa mà không thể kể hết ra đây, những nhà giáo hết lòng yêu nghề và sẵn sàng hy sinh tiện nghi trong cuộc sống vì sự nghiệp chung; mặt khác cũng phải kể đến trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho phép họ theo đuổi lựa chọn này. Sự "khám phá" ra một hệ thống giáo dục chất lượng cao ở Việt Nam tương đương với hệ thống các lớp dự bị của Pháp khẳng định chắc chắn rằng thể thức tuyển sinh mới không hề là một kỳ thi kém chất lượng.

Những năm sau đó, có thêm nhiều sinh viên từ Hệ Cử nhân tài năng thi đỗ vào trường Polytechnique, nhóm quốc tịch Việt Nam trong nhiều năm là nhóm sinh viên nước ngoài đông đảo nhất. Rồi dần có thêm những sinh viên Việt Nam đến từ các trường đại học chất lượng cao khác. Tất cả những điều đó, và những ghi nhận của tôi kết thúc vào năm 2003, đã chứng tỏ chất lượng đào tạo của Việt Nam, giữ gìn nó và tôn vinh những người đóng góp cho nó là rất quan trọng đối với đất nước các bạn, bởi đó là sự đảm bảo duy nhất cho sự tăng trưởng thịnh vượng và một tương lai tốt đẹp hơn.